Máy nghiền đứng LM cho sản xuất bột barit
Zalo/WhatsApp: +8615333807511
Chúng tôi sản xuất nhiều loại máy nghiền khác nhau, chẳng hạn như máy nghiền Raymond, máy nghiền hình thang, máy nghiền đứng, máy nghiền siêu mịn, máy nghiền bi, v.v..., có thể tạo ra các kích thước bột khác nhau như 5 micron, 10 micron, 40 micron, 100 micron, 200 micron, v.v.
Thiết bị máy nghiền của chúng tôi có thể xử lý các loại khoáng sản sau:
đá vôi, talc, barit, bentonit, canxi cacbonat, dolomit, than đá, thạch cao, đất sét, thủy tinh, muội than, xỉ, clinker xi măng, v.v.
Nếu bạn cần máy nghiền để nghiền đá hoặc khoáng sản thành bột, vui lòng liên hệ với tôi(Zalo/WhatsApp: +8615333807511). Xin cảm ơn!
Khi một nhà máy cần sản xuất bột barit với sản lượng lớn và vận hành liên tục, máy nghiền đứng LM của Liming Heavy Industry là phương án đáng đánh giá. Thiết bị kết hợp nghiền, làm khô khi có khí nóng phù hợp và phân ly bột trong cùng một hệ thống. Tuy nhiên, lợi thế đó chỉ phát huy khi máy được chọn theo mẫu quặng, chỉ tiêu thành phẩm và điều kiện vận hành thực tế, thay vì chỉ dựa vào dải công suất công bố.
LM làm việc như thế nào?
Barit sau nghiền thô được cấp vào giữa bàn nghiền. Khi bàn quay, vật liệu di chuyển ra phía ngoài và được con lăn ép nghiền. Dòng khí đưa các hạt đã được làm nhỏ lên bộ phân ly: bột đạt yêu cầu đi đến thiết bị thu hồi, còn hạt thô trở lại bàn nghiền để tiếp tục xử lý. Nếu nguyên liệu cần giảm độ ẩm, khí nóng có thể tham gia quá trình này, nhưng nhiệt lượng cấp phải phù hợp với lượng nước cần loại bỏ và độ ẩm thành phẩm mong muốn.
Điều này không có nghĩa là có thể đổ quặng nguyên khai trực tiếp vào máy. Kích thước cục lớn, kim loại lẫn trong quặng hoặc cấp liệu lúc nhiều lúc ít đều có thể làm hệ thống hoạt động không ổn định. Trước LM vẫn cần bố trí nghiền thô, kiểm soát kích thước, kho đệm và cấp liệu phù hợp.
Khi nào nên chọn máy nghiền đứng LM?
Nhà máy cần sản lượng bột barit lớn, tương đối ổn định theo ca và có kế hoạch vận hành dài hạn.
Quặng có độ ẩm cần xử lý trong quá trình nghiền và nhà máy có thể cung cấp, kiểm soát nguồn khí nóng.
Mặt bằng và bố trí công nghệ phù hợp với một hệ thống tích hợp nghiền, phân ly, vận chuyển bằng khí và thu bột.
Đơn hàng yêu cầu độ mịn ổn định, có thể kiểm tra bằng mẫu thử và điều chỉnh bộ phân ly theo chỉ tiêu thành phẩm.
Ngược lại, nếu nhu cầu sản lượng còn nhỏ hoặc thay đổi mạnh theo từng đơn hàng, không nên mặc định LM là lựa chọn kinh tế nhất. Cần so sánh phương án dây chuyền hoàn chỉnh, bao gồm đầu tư phụ trợ, điện, nhiệt, vật tư hao mòn và thời gian vận hành thực tế.
Đọc thông số LM cho đúng
Tài liệu của Liming Heavy Industry công bố các model LM dùng cho nghiền khoáng với dải độ mịn 80–325 mesh; kích thước nguyên liệu đầu vào tối đa và sản lượng thay đổi theo cỡ máy. Cùng tài liệu đó còn có bảng thông số riêng cho máy nghiền than. Với dự án barit, cần dùng bảng cấu hình nghiền khoáng làm điểm xuất phát, không lấy sản lượng hoặc chỉ tiêu bột than để dự tính hiệu quả nghiền barit.
Ngay cả trong dải thông số nghiền khoáng, sản lượng thực tế còn phụ thuộc vào độ mịn yêu cầu. Khi bộ phân ly giữ lại nhiều hạt để nghiền tiếp, lượng bột đạt chuẩn mỗi giờ có thể khác đáng kể so với mức ghi cho điều kiện tham chiếu. Vì vậy, báo giá và phương án kỹ thuật nên nêu rõ sản lượng thành phẩm tại độ mịn đã thỏa thuận, chứ không chỉ nêu công suất tối đa của máy.
Một tình huống thường gặp
Một nhà máy dự kiến dùng barit từ hai khu khai thác để sản xuất cùng một loại bột. Mẫu từ khu thứ nhất khô và sạch; mẫu từ khu thứ hai ẩm hơn, lẫn đất sét. Nếu chỉ thử nghiền mẫu thứ nhất, LM có thể cho kết quả tốt nhưng khi đổi nguồn cấp, vật liệu bắt đầu bám dính và độ mịn dao động.
Cách xử lý là lấy mẫu đại diện từ cả hai nguồn, kiểm tra độ ẩm và tạp chất, sau đó đánh giá khả năng phối trộn, làm khô và cấp liệu ổn định. Việc tăng nhiệt hoặc tăng tốc độ bộ phân ly không thay thế được khâu kiểm soát nguyên liệu đầu vào.
Những hạng mục phải đi cùng LM
Một dây chuyền barit dùng LM cần được thiết kế đồng bộ từ phễu nguyên liệu đến silo thành phẩm. Đặc biệt, hệ thống cấp liệu phải giữ lưu lượng đều; nguồn khí nóng, nếu sử dụng, phải đáp ứng nhu cầu sấy; quạt, đường ống và thiết bị lọc bụi phải phù hợp với lưu lượng khí thực tế. Cũng cần chừa lối tiếp cận để kiểm tra con lăn, bàn nghiền, bộ phân ly và bộ phận thu bụi.
Trước khi quyết định model, hãy xác định ứng dụng của bột, chỉ tiêu cỡ hạt và độ ẩm, sản lượng theo giờ, kích thước quặng sau nghiền thô, độ ẩm cao nhất dự kiến và điều kiện mặt bằng. Dùng những dữ liệu đó để thử mẫu và chốt cấu hình LM sẽ đáng tin cậy hơn nhiều so với chọn máy theo một con số mesh hoặc tấn mỗi giờ riêng lẻ.