Sản xuất bột barit cho dung dịch khoan: yêu cầu nghiền và giải pháp

Zalo/WhatsApp: +8615333807511

Chúng tôi sản xuất nhiều loại máy nghiền khác nhau, chẳng hạn như máy nghiền Raymond, máy nghiền hình thang, máy nghiền đứng, máy nghiền siêu mịn, máy nghiền bi, v.v..., có thể tạo ra các kích thước bột khác nhau như 5 micron, 10 micron, 40 micron, 100 micron, 200 micron, v.v.
Thiết bị máy nghiền của chúng tôi có thể xử lý các loại khoáng sản sau:
đá vôi, talc, barit, bentonit, canxi cacbonat, dolomit, than đá, thạch cao, đất sét, thủy tinh, muội than, xỉ, clinker xi măng, v.v.
Nếu bạn cần máy nghiền để nghiền đá hoặc khoáng sản thành bột, vui lòng liên hệ với tôi(Zalo/WhatsApp: +8615333807511). Xin cảm ơn!

Bột barit dùng cho dung dịch khoan phải giúp tăng tỷ trọng dung dịch mà vẫn đáp ứng các giới hạn về cỡ hạt và tạp chất. Vì vậy, dây chuyền không thể được thiết kế chỉ theo yêu cầu “nghiền barit đến 200 mesh”. Cần kiểm tra quặng có phù hợp với cấp sản phẩm dự kiến hay không, sau đó mới chọn hệ thống nghiền và phân ly để duy trì chất lượng giữa các lô hàng.

Bốn chỉ tiêu cần xác nhận trước khi chọn máy

Nếu đơn hàng yêu cầu barit theo API Spec 13A, hai cấp tỷ trọng được quy định là barit 4,1 g/mL và barit 4,2 g/mL. Ngoài ngưỡng tỷ trọng khác nhau, hai cấp này có cùng các giới hạn nêu dưới đây. Tuy nhiên, hợp đồng có thể đặt thêm yêu cầu riêng, nên cần xác nhận bộ chỉ tiêu nghiệm thu trước khi sản xuất.

Chỉ tiêuYêu cầu theo API Spec 13AÝ nghĩa đối với dây chuyền
Tỷ trọngTối thiểu 4,10 g/mL hoặc 4,20 g/mL, tùy cấp đặt hàng.Phải kiểm soát chất lượng quặng đầu vào; nghiền mịn không tự làm tăng tỷ trọng.
Hạt lớn hơn 75 µmKhông quá 3,0% khối lượng.Cần nghiền và phân ly đủ hiệu quả để hạn chế hạt thô trong thành phẩm.
Hạt nhỏ hơn 6 µmKhông quá 30% khối lượng.Không nên nghiền quá mức chỉ để giảm lượng hạt thô.
Kim loại kiềm thổ hòa tan, tính theo canxiKhông quá 250 mg/kg.Cần kiểm tra nguyên liệu và tránh lẫn tạp trong quá trình lưu kho, chế biến.


Vì sao “càng mịn càng tốt” là sai?

Nếu bột còn nhiều hạt thô, sản phẩm có thể không đạt giới hạn cỡ hạt. Nhưng nếu tiếp tục nghiền toàn bộ vật liệu chỉ để xử lý phần hạt thô, lượng hạt dưới 6 µm cũng có thể tăng và vượt giới hạn. Do đó, chất lượng bột khoan phụ thuộc vào phân bố cỡ hạt: bộ phân ly cần đưa hạt đạt yêu cầu ra khỏi vùng nghiền và trả hạt thô về xử lý tiếp.

Đây cũng là lý do không nên xem con số mesh trên báo giá là bằng chứng đủ để nghiệm thu. Cần thống nhất phương pháp lấy mẫu và kiểm tra phần hạt lớn hơn 75 µm, phần hạt nhỏ hơn 6 µm trên bột thực tế.

Chuẩn bị quặng trước khi nghiền

Quặng từ mỏ cần được lấy mẫu đại diện để kiểm tra tỷ trọng và tạp chất. Nếu quặng không đạt cấp tỷ trọng khách hàng yêu cầu, phải đánh giá việc phân loại hoặc tuyển chọn nguyên liệu trước; đổi máy nghiền sẽ không giải quyết được vấn đề này. Quặng sau đó được nghiền thô đến kích thước phù hợp với máy nghiền bột, loại vật lạ và cấp đều từ kho đệm.

Độ ẩm cần được kiểm tra theo từng nguồn quặng và thời điểm khai thác. Nguyên liệu ẩm dễ bám dính, làm quá trình cấp liệu và phân ly kém ổn định. Việc xử lý ẩm nên được xác định theo mẫu quặng thực tế, thay vì chỉ dựa vào một lần đo trong mùa khô.

Chọn hệ thống nghiền theo quy mô nhà máy

Với nguyên liệu đã chuẩn bị tương đối khô và sản lượng nằm trong phạm vi model phù hợp, có thể đánh giá máy nghiền MTW kiểu châu Âu của Liming Heavy Industry. Barit được liệt kê trong nhóm nguyên liệu ứng dụng của dòng máy này; tài liệu công bố điều kiện độ ẩm nguyên liệu dưới 6%. Khi chọn model, cần kiểm tra lượng bột đạt đủ cả hai giới hạn cỡ hạt, không chỉ độ mịn danh nghĩa.

Với dây chuyền cần sản lượng lớn, chạy liên tục hoặc cần làm khô trong quá trình nghiền, có thể đánh giá máy nghiền đứng LM của Liming Heavy Industry ở cấu hình nghiền khoáng. LM kết hợp nghiền, làm khô và phân ly, nhưng nguồn khí nóng và thiết lập bộ phân ly phải được chọn theo độ ẩm quặng cùng yêu cầu thành phẩm. Thông số của cấu hình nghiền than không nên dùng để dự tính sản lượng barit.

Dù chọn MTW hay LM, dây chuyền vẫn cần nghiền thô, cấp liệu ổn định, thu bột, lọc bụi và silo thành phẩm. Năng lực đóng bao hoặc xuất rời phải theo kịp sản lượng nghiền để tránh dừng máy khi kho chứa đầy.

Kiểm nghiệm theo lô trước khi giao hàng

Trong quá trình sản xuất, nên theo dõi nguồn quặng, chế độ vận hành và kết quả thử bột của từng lô. Khi thay đổi mỏ hoặc điều chỉnh bộ phân ly, cần lấy mẫu lại trước khi nhập chung vào silo thành phẩm. Bao bì và thông tin lô hàng phải giúp truy xuất được sản phẩm; vật liệu đóng bao cũng cần bảo vệ bột trong vận chuyển và lưu kho.

Để xây dựng phương án cụ thể, hãy chuẩn bị mẫu quặng, cấp barit khoan dự kiến, kết quả kiểm tra tỷ trọng và tạp chất, sản lượng cần đạt, độ ẩm đầu vào cùng quy cách giao hàng. Từ đó mới có thể xác định cỡ máy MTW hoặc cấu hình LM phù hợp và thử nghiệm khả năng tạo ra bột đạt đủ các chỉ tiêu, ổn định qua nhiều ca sản xuất.

Nhận giá

Zalo

WhatsApp

Top